Nâng tầm nghiên cứu khoa học cơ bản từ học thuật lên nền tảng chiến lược quốc gia
Trong nhiều năm, nghiên cứu khoa học cơ bản thường được nhìn nhận như một lĩnh vực học thuật chuyên sâu, chủ yếu gắn với các viện nghiên cứu và trường đại học. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh quốc gia hiện nay, khoa học cơ bản không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn là nền tảng để hình thành công nghệ lõi, đào tạo nhân lực tinh hoa, nâng cao năng lực dự báo, hoạch định chính sách và tự chủ phát triển dài hạn. Tại cuộc làm việc với Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ nhận thức, thể chế, cơ chế đầu tư và phương thức tổ chức nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải xác định rõ mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản trong giai đoạn mới, bảo đảm vừa xử lý các điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Bởi khoa học cơ bản là lĩnh vực nghiên cứu tạo ra tri thức nền tảng về tự nhiên, xã hội và con người. Từ những tri thức đó, một quốc gia có thể hình thành công nghệ lõi, đào tạo nhân lực tinh hoa, nâng cao năng lực dự báo, hoạch định chính sách và xây dựng năng lực tự chủ phát triển trong dài hạn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "Phải xác định rõ nghiên cứu khoa học cơ bản không phải hoạt động học thuật thuần túy mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ XXI. Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và cho sức cạnh tranh lâu dài của đất nước. Thứ hai, phát triển khoa học cơ bản phải phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược; bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao năng lực dự báo, quản trị quốc gia và khả năng thích ứng với những biến động lớn của thế giới".
![]()
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một số nội dung cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trong thời gian tới - Ảnh: TTXVN
Nhấn mạnh vai trò chiến lược của khoa học cơ bản trong mô hình phát triển quốc gia, PGS.TS Nguyễn Thanh Hải cho rằng, đây là bước chuyển sâu sắc trong tư duy phát triển khoa học của Việt Nam.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết: "Có thể nói, những phát biểu định hướng của Tổng Bí thư về công nghệ lượng tử, về nghiên cứu khoa học cơ bản là bước chuyển sâu sắc mang tính định hướng chiến lược đối với nền khoa học nước nhà, đã tạo nên một sự hào hứng, phấn khởi, mang lại một động lực lớn lao, tiếp thêm nhiệt huyết cho đội ngũ khoa học nước nhà sẵn sàng đóng góp nhiều hơn cho đất nước".
"Trước đây, khoa học cơ bản thường được nhìn nhận như hoạt động chuyên môn hẹp, mang tính học thuật của các viện nghiên cứu và trường đại học, chủ yếu phục vụ mục tiêu tri thức thuần túy mà ít có sự gắn kết trực tiếp với phát triển kinh tế - xã hội" - PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội chia sẻ.
Cũng theo bà Nguyễn Thanh Hải, Tổng Bí thư đã chỉ rõ sự hạn chế của tư duy này: nó dẫn đến sự đầu tư phân tán, thiếu tích lũy dài hạn và chưa phát huy vai trò động lực cho quốc gia. Trong bối cảnh mới, Tổng Bí thư khẳng định khoa học cơ bản chính là "nền móng tri thức của quốc gia", là cơ sở hình thành công nghệ lõi, nguồn nhân lực, năng lực dự báo chiến lược, hoạch định chính sách và nâng cao năng lực tự chủ phát triển lâu dài.
Cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay không còn chỉ dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ mà chủ yếu là cạnh tranh tri thức, công nghệ cao và nhân tài.
Thành tựu của các lĩnh vực then chốt như AI, công nghệ lượng tử, bán dẫn, sinh học và vật liệu mới đều bắt nguồn từ những tích lũy từ nghiên cứu cơ bản của nhiều quốc gia qua nhiều thập kỷ. Do đó, đầu tư cho khoa học cơ bản không phải là chi tiêu "xa xỉ" mà là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc.
Quan điểm này thể hiện tư duy chiến lược hiện đại, không chỉ khích lệ giới khoa học mà còn yêu cầu toàn hệ thống chính trị cần chuyển biến mạnh mẽ, coi khoa học cơ bản là một trong những đột phá quan trọng để Việt Nam thực hiện mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Tóm lại, việc nâng tầm nghiên cứu khoa học cơ bản từ "học thuật" lên "nền tảng chiến lược quốc gia" chính là một thông điệp rõ ràng: khoa học phải thực sự trở thành động lực then chốt cho sự phát triển bền vững và tự chủ của dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.
Liên quan đến yêu cầu đổi mới thể chế, cơ chế quản lý khoa học, PGS.TS Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh đây là nội dung có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định vai trò nền tảng của công tác xây dựng pháp luật trong thúc đẩy khoa học - công nghệ quốc gia.
Từ góc độ xây dựng pháp luật, phát biểu của Tổng Bí thư đã khẳng định thể chế là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của nghiên cứu khoa học cơ bản.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, hệ thống pháp luật hiện nay còn mang tính hành chính hóa cao, nặng về tiền kiểm, thủ tục rườm rà, gây nguy cơ kìm hãm sáng tạo.
Việc đổi mới pháp luật cần theo hướng chuyển từ "quản lý hành chính" sang "quản trị sáng tạo", tập trung hậu kiểm, đánh giá chất lượng và tác động dài hạn, trong đó chấp nhận rủi ro khoa học chính là yêu cầu cấp thiết để tháo gỡ điểm nghẽn. Xây dựng pháp luật tốt sẽ tạo hành lang pháp lý thông thoáng, bảo vệ sáng tạo học thuật, khuyến khích liêm chính khoa học và trách nhiệm giải trình, từ đó khơi dậy tiềm năng sáng tạo của đội ngũ nhà khoa học.
Tầm quan trọng của công tác xây dựng pháp luật còn thể hiện rất rõ ở việc nó là nền tảng cho việc phân bổ nguồn lực hiệu quả. Pháp luật phải thiết kế cơ chế tài chính phù hợp với đặc thù nghiên cứu cơ bản - lĩnh vực có tính rủi ro cao, chu kỳ đầu tư dài, khó đo lường ngay lập tức bằng chỉ tiêu kinh tế (thông thường phải đầu tư 10 - 20 năm mới có kết quả).
Một hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ giúp huy động nguồn lực xã hội hóa, thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời bảo đảm ngân sách nhà nước được sử dụng minh bạch, hiệu quả. Bên cạnh đó, pháp luật còn góp phần xây dựng môi trường học thuật lành mạnh, thu hút nhân tài, tạo cơ chế đãi ngộ xứng đáng và trao cơ hội cho các nhà khoa học trẻ, xuất sắc, chuyên gia đầu ngành.
Nếu không có khung pháp lý vững chắc, các mục tiêu lớn như xây dựng nền nghiên cứu khoa học hiện đại, tự chủ, hội nhập sẽ khó thành hiện thực. Xây dựng pháp luật ở đây không chỉ là ban hành văn bản mà còn là quá trình hoàn thiện đồng bộ từ luật đến nghị định, thông tư, bảo đảm tính khả thi, tính dự báo và tính thích ứng với cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo, đồng thời phải đi đôi với kiểm tra, giám sát việc triển khai pháp luật.
Tóm lại, công tác xây dựng và đổi mới pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là động lực then chốt để khoa học cơ bản thực sự trở thành nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Việc triển khai mạnh mẽ tinh thần này sẽ góp phần đưa Việt Nam tiếp cận trình độ khoa học tiên tiến của khu vực và thế giới.
![]()
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo - Ảnh: TTXVN
Nhiều điểm nghẽn trong hoạt động nghiên cứu khoa học
Cùng với xây dựng, đổi mới thể chế cho công tác nghiên cứu khoa học cơ bản thì điều mà các nhà khoa học mong muốn là tháo gỡ các điểm nghẽn trong hoạt động để các nhà khoa học có môi trường thuận lợi nghiên cứu, thử nghiệm, sáng tạo và theo đuổi những câu hỏi lớn đến cùng.
Tại Viện Khoa học Vật liệu, một bộ hồ sơ chứng từ trị giá chưa đến 100 triệu đồng cho đề tài nghiên cứu từ năm ngoái đã khiến các nghiên cứu viên mất nhiều thời gian để hoàn tất thủ tục thanh toán.
Hiện một đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản thường được cấp khoảng từ 1,5 đến 2 tỷ đồng trong thời gian 3 năm. Tuy nhiên, với đặc thù của khoa học cơ bản, khoảng thời gian này mới chỉ đủ để hình thành giả thuyết, kiểm chứng hướng đi và tích lũy dữ liệu ban đầu. Đi kèm với đó là nhiều yêu cầu về thủ tục hành chính, thanh quyết toán, làm ảnh hưởng đáng kể đến quá trình nghiên cứu.
GS.TS Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng: "Tôi nghĩ rằng, với số kinh phí này, chúng ta mới chỉ đáp ứng được khoảng từ 50-70% so với các đồng nghiệp của chúng ta ở các nước ASEAN như Thái Lan, Malaysia, chứ chưa nói đến các nước như EU, Mỹ, Hàn Quốc. Và thời gian thực hiện nghiên cứu cũng không nên quá bắt buộc trong thời gian là 3 năm. Có thể trong một số trường hợp, chúng ta kéo dài lên 4, 5, 10, 15 năm vì những kết quả nghiên cứu cơ bản thường khó và đòi hỏi đầu tư dài hạn, ổn định trong một thời gian dài."
Không chỉ thiếu nguồn lực, thủ tục hành chính cũng đang là một điểm nghẽn lớn. Tại Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, gần nửa năm đã trôi qua, nhiều hoạt động vẫn phải dựa vào nguồn xã hội hóa từ các quỹ bên ngoài. Các hội thảo khoa học, lớp học chuyên sâu, chương trình bồi dưỡng học sinh thi toán quốc tế vẫn được duy trì, nhưng cơ chế tài chính cho hoạt động thường xuyên đến nay vẫn chưa được phê duyệt.
PGS.TS Lê Minh Hà, Giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán cho biết: "Thực sự chúng tôi vẫn đang thực hiện các nhiệm vụ của năm 2026 mà chưa thực sự biết rõ kinh phí của chúng tôi sẽ như thế nào. Thủ tục cấp kinh phí của Việt Nam cho một viện nghiên cứu phải trải qua rất nhiều cấp. Đặc biệt, năm nay có rất nhiều hướng dẫn khác nhau, nhiều khi hoàn toàn mới so với trước đây. Qua nhiều năm thực hiện công việc này, tôi thấy gần như năm nào chúng tôi cũng phải có một hướng dẫn mới, có những mẫu mới để thực hiện".
Từ lập đề tài, phê duyệt kinh phí, mua sắm thiết bị đến thanh quyết toán, các nhà khoa học phải dành quá nhiều thời gian cho biểu mẫu và quy trình. Trong khi đó, khoa học cơ bản không thể vận hành bằng tư duy "đặt hàng nhanh, nghiệm thu nhanh". Đây là lĩnh vực cần kiên nhẫn, chấp nhận độ trễ và chấp nhận cả những kết quả chưa thể đo đếm ngay.
![]()
Ảnh minh họa
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết: “Việc thiết kế cơ chế tài chính phù hợp với từng loại hình nghiên cứu, theo tôi mang một ý nghĩa chiến lược to lớn và là điều kiện quan trọng nhất trong việc triển khai. Giải pháp này phản ánh một tư duy dài hạn vừa mang tính hệ thống, nhưng có sự phân loại và rất phù hợp với bối cảnh Việt Nam đang cần tự chủ chiến lược trong kỷ nguyên công nghệ và biến động toàn cầu. Giải pháp này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, ngắn hạn, hành chính hóa”.
Để triển khai hiệu quả giải pháp này, theo tôi cần có các yếu tố hỗ trợ, phối hợp như sau:
(1) Xây dựng Chiến lược quốc gia về khoa học cơ bản đến năm 2045, trong đó quy định rõ cơ chế tài chính cho từng loại hình nghiên cứu trong khoa học cơ bản.
(2) Hoàn thiện khung pháp lý như sửa đổi Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo; Luật Đầu tư công; Luật Ngân sách, cho phép đầu tư, tài trợ đa niên (cấp kinh phí nghiên cứu liên tục trong nhiều năm cho một nhiệm vụ nghiên cứu khoa học), chấp nhận rủi ro khoa học; tăng hậu kiểm thay vì tiền kiểm chặt chẽ.
(3) Thành lập Quỹ nghiên cứu khoa học cơ bản quốc gia đa niên, vận hành chuyên nghiệp, minh bạch.
(4) Giám sát chặt chẽ liêm chính khoa học và trách nhiệm giải trình.
(5) Đánh giá theo chất lượng và tác động dài hạn thay vì số lượng bài báo hoặc hợp đồng ngắn hạn như hiện nay.
Giải pháp trên còn cần phải tích hợp với yếu tố hạ tầng dữ liệu, nguồn nhân lực; nhân tài cần được phát hiện sớm, đào tạo tinh hoa, đãi ngộ xứng đáng; lựa chọn tài trợ cho các nhóm nghiên cứu mạnh, xuất sắc trong nước để phát triển ngang tầm khu vực và thế giới.
Tóm lại, giải pháp này không chỉ là kỹ thuật tài chính mà là sự định hướng chiến lược nhằm biến khoa học cơ bản thành động lực thực sự cho phát triển nhanh, bền vững và tự chủ của đất nước. Việc triển khai sẽ quyết định hiệu quả của toàn bộ hệ sinh thái khoa học Việt Nam trong giai đoạn tới.


Các tin bài khác